Chủ Nhật, 12/04/2026

Những điểm mới trong Luật giám định tư pháp năm 2025 (Luật số 105/2025/QH15)

Thứ Hai, 30/03/2026

Thực hiện Quyết định số 950/QĐ-BCA ngày 26/02/2026 của Bộ trưởng Bộ công an ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Giám định tư pháp trong Công an nhân dân. Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình trân trọng tổng hợp, giới thiệu một số nội dung cơ bản, những điểm mới của Luật Giám định tư pháp năm 2025 để Công an các đơn vị, địa phương trong Công an tỉnh Ninh Bình tham khảo phổ biến, tuyên truyền và triển khai thực hiện có hiệu quả.

Ngày 05/12/2025, Quốc hội Khoá XV, Kỳ họp thứ 10 đã thông qua Luật Giám định tư pháp (Luật số 105/2025/QH15). Luật gồm 6 Chương, 45 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026, quy định về người giám định tư pháp; tổ chức giám định tư pháp; trình tự, thủ tục giám định tư pháp; chi phí giám định tư pháp; chế độ, chính sách trong hoạt động giám định tư pháp; quản lý nhà nước về giám định tư pháp; trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động giám định tư pháp. Đây là bước tiến mới trong hoạt động bổ trợ tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và công cuộc cải cách tư pháp, là sự cụ thể hoá Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; thể chế hoá Chỉ thị số 54-CT/TW ngày 30/11/2025 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giám định tư pháp và định giá tài sản. Sau đây là một số điểm mới của Luật Giám định tư pháp năm 2025 so với Luật Giám định tư pháp hiện hành.

1. Mở rộng các hành vi bị nghiêm cấm trong giám định tư pháp

Luật Giám định tư pháp năm 2025 đã bổ sung thêm nhiều hành vi bị nghiêm cấm được quy định tại Điều 9 (So với Điều 6 Luật Giám định tư pháp năm 2012 được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 3 Điều 1 Luật Giám định tư pháp sửa đổi năm 2020) nhằm tăng cường tính nghiêm minh, qua đó siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động giám định tư pháp, cụ thể:

- Từ chối tiếp nhận, thực hiện giám định tư pháp mà không có lý do chính đáng; Quy định này nhằm loại bỏ những hành vi tuỳ tiện từ chối giám định khi có trưng cầu, yêu cầu hợp lệ, nâng cao tính trách nhiệm và văn minh tư pháp;

- Từ chối kết luận giám định tư pháp mà không do trở ngại khách quan. Quy định nhằm nâng cao năng lực, tinh thần trách nhiệm của tổ chức, cá nhân thực hiện giám định, trừ những trường hợp bất khả kháng;

- Nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích khác từ cơ quan, tổ chức, cá nhân để làm sai lệch việc trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp hoặc để làm sai lệch kết quả, kết luận giám định tư pháp. Đây là hành vi tham nhũng bị cấm tuyệt đối, thể hiện tính nghiêm minh pháp luật;

- Lợi dụng việc trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp để gây khó khăn, cản trở hoạt động tố tụng. Quy định này nhằm ngăn chặn việc lạm dụng các quy trình giám định để trì hoãn hoặc cản trở tiến trình giải quyết vụ án, vụ việc;

- Lạm dụng việc trưng cầu giám định tư pháp trong hoạt động tố tụng hình sự để thay thế công tác điều tra, thực hiện nghĩa vụ chứng minh của cơ quan tiến hành tố tụng, nhằm nâng cao trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thực hiện trách nhiệm chứng minh sự thật của vụ án, vụ việc;

- Đe dọa người giám định tư pháp đưa ra kết luận giám định tư pháp sai sự thật. Quy định này nhằm bảo vệ người thực hiện giám định, tính độc lập của Giám định viên trong kết luận giám định.

Bên cạnh đó, Luật Giám định tư pháp 2025 cũng sửa đổi, làm rõ một số hành vi bị nghiêm cấm đã được quy định trước đây, bao gồm:

- Cố ý kéo dài thời gian thực hiện giám định tư pháp, thời gian ban hành kết luận giám định tư pháp (quy định cũ chỉ dừng lại ở hành vi cố ý kéo dài thời gian thực hiện giám định);

- Tiết lộ thông tin trong quá trình thực hiện giám định tư pháp gây ảnh hưởng đến hoạt động tố tụng (quy định cũ là tiết lộ bí mật thông tin mà mình biết được khi tiến hành giám định);

- Lợi dụng danh nghĩa người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp để trục lợi (thay cho quy định cũ là lợi dụng việc thực hiện giám định tư pháp để trục lợi).

Những sửa đổi, bổ sung này thể hiện sự bao quát đầy đủ hơn các hành vi tiêu cực có thể phát sinh trong thực tiễn giám định tư pháp, từ đó ngăn chặn, loại trừ những tiêu cực từ nhóm hành vi này.

2. Bổ sung thẩm quyền bổ nhiệm Giám định viên tư pháp theo hướng quản lý lĩnh vực ngành; quy định về người không được công nhận là giám định viên tư pháp theo vụ việc

- Điều 11 Luật Giám định tư pháp 2025 quy định việc bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp theo hướng chặt chẽ hơn, theo đó: Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm Giám định viên tư pháp đối với người làm việc tại cơ quan, đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý (trước đây việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Giám định viên phân cấp nhiều cho địa phương thuộc thẩm quyền Chủ tịch UBND cấp tỉnh).

- Một điểm mới nữa là quy định trường hợp không được bổ nhiệm Giám định viên tư pháp theo vụ việc tại Điều 13. Theo đó, người không đủ tiêu chuẩn để được công nhận là giám định viên tư pháp theo vụ việc bao gồm: Người không bảo đảm phẩm chất đạo đức tốt; không có trình độ đại học trở lên hoặc chưa có đủ 05 năm hoạt động thực tế trong lĩnh vực chuyên môn được đào tạo. Đồng thời, Luật loại trừ các trường hợp như: người bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; cán bộ bị bãi nhiệm; công chức, viên chức bị buộc thôi việc; người đang trong thời gian chấp hành quyết định kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên.

Đồng thời quy định các trường hợp bị hủy bỏ công nhận giám định viên tư pháp theo vụ việc, bao gồm: Không đủ điều kiện được công nhận được quy định tại Luật này; bị xử lý kỷ luật từ cảnh cáo trở lên hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính do vi phạm hành vi bị nghiêm cấm; có quyết định nghỉ hưu, thôi việc có hiệu lực; hoặc chuyển đổi vị trí công tác, chuyển công tác sang cơ quan, đơn vị khác mà không còn làm việc trong lĩnh vực chuyên môn đã được công nhận.

3. Tổ chức lại hệ thống các tổ chức giám định tư pháp công lập 

Điều 17 quy định cụ thể:

- Lĩnh vực pháp y: Bao gồm các tổ chức giám định tư pháp công lập thuộc Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Sở Y tế tỉnh, thành phố.

- Lĩnh vực pháp y tâm thần: Thuộc Bộ Y tế.

- Lĩnh vực kỹ thuật hình sự: Bao gồm các tổ chức giám định tư pháp công lập thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Công an tỉnh, thành phố. Đặc biệt, tổ chức giám định tư pháp công lập thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao sẽ thực hiện giám định chuyên ngành âm thanh, kỹ thuật số và điện tử; tổ chức giám định tư pháp công lập thuộc Công an tỉnh, thành phố sẽ thực hiện giám định chuyên ngành pháp y tử thi và pháp y thương tích. 

4. Mở rộng thêm các lĩnh vực hoạt động của Văn phòng giám đinh tư pháp; Quy định cụ thể 7 lĩnh vực hoạt động của Văn phòng giám định tư pháp

Khoản 1 Điều 20 quy định: Văn phòng giám định tư pháp được tổ chức và hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh, tuân thủ quy định của Luật Giám định tư pháp, pháp luật về doanh nghiệp và các quy định pháp luật có liên quan.

Khoản 2 Điều 20 đã bổ sung và quy định cụ thể 07 lĩnh vực, chuyên ngành Văn phòng giám định tư pháp được thành lập và đăng ký hoạt động gồm:

- Lĩnh vực kỹ thuật hình sự, gồm các chuyên ngành: giám định tài liệu, giám định kỹ thuật số và điện tử, giám định dấu vết đường vân;

- Lĩnh vực pháp y, gồm chuyên ngành giám định ADN;

- Lĩnh vực văn hóa, gồm các chuyên ngành: cổ vật, di vật, bản quyền tác giả;

- Lĩnh vực tài chính;

- Lĩnh vực ngân hàng;

- Lĩnh vực xây dựng;

- Lĩnh vực tài nguyên.

Điều này là sự thể chế hoá nội dung Chỉ thị số 54-CT/TW ngày 30/11/2025 của Bộ Chính trị về tăng cường lãnh đạo của Đảng đối với công tác giám định tư pháp “Đẩy mạnh xã hội hóa một số lĩnh vực giám định nhằm đáp ứng tốt yêu cầu của hoạt động tố tụng, nhất là tố tụng dân sự, hành chính, khuyến khích, tạo điều kiện phát triển các tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập với lộ trình phù hợp yêu cầu thực tế, đồng thời có biện pháp bảo đảm, kiểm soát chặt chẽ về chất lượng giám định”.

Chính vì vậy, Luật cũng quy định Văn phòng giám định tư pháp không được thực hiện giám định các chuyên ngành ADN, tài liệu, kỹ thuật số và điện tử, dấu vết đường vân trong tố tụng hình sự, trừ trường hợp được người trưng cầu giám định trưng cầu trong những trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật.

Đồng thời tên của Văn phòng giám định tư pháp phải bảo đảm thống nhất, trong đó bắt buộc bao gồm cụm từ “Văn phòng giám định tư pháp” kèm theo tên riêng bằng tiếng Việt, nhằm bảo đảm tính minh bạch và dễ nhận diện trong hoạt động hành nghề.

Khoản 6 Điều 20 quy định: Văn phòng giám định tư pháp được thành lập và đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:

a) Trưởng Văn phòng giám định tư pháp là giám định viên tư pháp, có thời gian công tác giám định từ đủ 03 năm trở lên;

b) Có Đề án thành lập Văn phòng giám định tư pháp.

Văn phòng giám định tư pháp được phép hoạt động kể từ ngày Sở Tư pháp phê duyệt Đề án thành lập và cấp Giấy đăng ký hoạt động.

Đặc biệt, Điều 22 và 23 Luật Giám định tư pháp năm 2025 đã khẳng định quyền của người dân trong việc yêu cầu giám định tư pháp. Theo đó, cá nhân, tổ chức có quyền trực tiếp yêu cầu Văn phòng giám định tư pháp thực hiện giám định đối với các vấn đề thuộc lĩnh vực, chuyên ngành mà Văn phòng đã được đăng ký hoạt động. Kết luận giám định được lập hợp pháp có giá trị pháp lý và có thể được sử dụng làm chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc tại Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

5. Giảm thời hạn giám định tư pháp 

Điều 30 Luật Giám định tư pháp 2025 đã điều chỉnh thời hạn giám định tư pháp theo hướng rút ngắn và phân loại rõ ràng hơn so với quy định tại Luật tư pháp sửa đổi năm 2020, cụ thể:

- Trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định tư pháp: thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự;

- Các trường hợp còn lại: 

+ Thời hạn giám định tư pháp tối đa là 02 tháng (quy định cũ là 03 tháng).

+ Nếu có tính chất phức tạp hoặc khối lượng công việc lớn: Thời hạn tối đa là 03 tháng (quy định cũ là 04 tháng).

+ Vụ việc đặc biệt phức tạp: Thời hạn tối đa là 04 tháng (quy định mới bổ sung).

Luật cũng quy định rõ về việc bổ sung thông tin, tài liệu: Có văn bản đề nghị bổ sung trong 24 giờ kể từ khi phát hiện; người trưng cầu phải bổ sung trong 05 ngày. Đối với việc gia hạn, phải có văn bản đề nghị chậm nhất 24 giờ trước khi hết hạn.

Thời điểm tính thời hạn giám định tư pháp được xác định là ngày người giám định tư pháp hoặc tổ chức giám định tư pháp nhận được đầy đủ hồ sơ trưng cầu, yêu cầu giám định.

Luật cũng bổ sung quy định về việc bổ sung thông tin, tài liệu, mẫu vật và gia hạn thời hạn giám định, theo đó người giám định phải có văn bản đề nghị bổ sung trong 24 giờ kể từ khi phát hiện nội dung cần bổ sung; người trưng cầu phải bổ sung trong thời hạn 05 ngày; và trường hợp không thể hoàn thành đúng hạn thì phải đề nghị gia hạn chậm nhất 24 giờ trước thời hạn trả kết luận.

6. Bổ sung quy định về văn bản, dữ liệu điện tử ghi nhận quá trình giám định

Điều 34 Luật Giám định tư pháp 2025 đã bổ sung quy định về văn bản, dữ liệu điện tử ghi nhận quá trình thực hiện giám định tư pháp. Theo đó, văn bản, dữ liệu điện tử phải nêu rõ tình trạng của đối tượng giám định, thông tin, tài liệu, mẫu vật liên quan, thời gian, địa điểm, nội dung công việc, tiến độ, phương pháp thực hiện, kết quả giám định, có chữ ký của người thực hiện và được lưu trữ trong hồ sơ giám định.

7. Bổ sung trường hợp đình chỉ việc thực hiện giám định tư pháp

Điều 36 Luật Giám định tư pháp 2025 quy định trường hợp không cần đến kết luận giám định tư pháp để giải quyết vụ việc, vụ án, người trưng cầu hoặc yêu cầu giám định phải thông báo ngay bằng văn bản và nêu rõ lý do đình chỉ. Ngay sau khi nhận được thông báo, người giám định tư pháp phải chấm dứt việc thực hiện giám định và ghi nhận vào văn bản hoặc dữ liệu điện tử.

8. Bổ sung các trường hợp từ chối thực hiện giám định tư pháp

Điều 38 Luật Giám định tư pháp 2025 đã thống nhất các trường hợp không được thực hiện giám định cho cả tổ chức và cá nhân. Đồng thời, bổ sung các trường hợp từ chối thực hiện giám định như:

- Đã thực hiện giám định về cùng một nội dung trong vụ việc (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác).

- Có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

- Có căn cứ cho rằng không khách quan, vô tư.

- Các trường hợp khác theo quy định pháp luật.

9. Bổ sung chính sách hỗ trợ đặc thù cho người giám định tư pháp

Điều 41 Luật Giám định tư pháp 2025 bổ sung chế độ, chính sách trong hoạt động giám định tư pháp nhằm thu hút đội ngũ giám định viên chất lượng cao:

- Chế độ hỗ trợ đặc thù: Dành cho người hưởng lương từ ngân sách trong lĩnh vực nguy hiểm, độc hại, khó thu hút.

- Chế độ thuê khoán: Tổ chức giám định công lập được áp dụng chế độ thuê khoán tương xứng để thu hút chuyên gia giỏi, có năng lực tốt ở ngoài khu vực nhà nước.

Phòng Kỹ thuật hình sự

 

Các tin khác
Liên kết website
Thống kê truy cập

Tổng số: 8504907

Trực tuyến: 90

Hôm nay: 15984